Vỏ bào ngư trị đau đầu, chóng mặt

Vỏ bào ngư còn có tên thạch quyết minh, cửu khổng quyết minh, phục ngư giáp, vỏ ốc xà cừ chín lỗ... Thạch quyết minh là xác vỏ một số loài bào ngư. Phần thịt (nhuyễn thể) của bào ngư là hải sản quý được dùng làm thuốc bổ âm, thanh nhiệt.

Thạch quyết minh (vỏ ốc bào ngư) có chứa 90% calcium carbonate. Theo Đông y, thạch quyết minh có vị mặn, tính bình; vào can thận. Tác dụng bình can tiềm dương, thanh can minh mục. Dùng cho các trường hợp can dương vượng, can phong nội động, gây đau đầu chóng mặt, đau mắt đỏ, viêm kết mạc cấp tính, giảm thị lực do viêm thị thần kinh. Liều dùng cách dùng: 10 - 50g; có thể nấu hoặc sắc (với nhiều thời gian).

Một số bài thuốc trị bệnh có thạch quyết minh

Bổ tâm an thần: thạch quyết minh 16g, sinh địa 16g, mẫu lệ 16g, bạch thược 12g, nữ trinh tử 12g, ngưu tất 12g, cúc hoa 8g. Sắc uống ngày 1 thang. Dùng cho chứng bệnh do phần dương trong gan bốc lên, sinh chóng mặt, hoa mắt...

Tan màng mộng, sáng mắt: thạch quyết minh 16g, xà thoái 4g, cam thảo 3g, câu kỷ tử 12g, mộc tặc 12g, tang diệp 12g, bạch cúc hoa 8g, thương truật 8g, kinh giới 8g, toàn phúc hoa 8g, cốc tinh thảo 12g. Sắc uống ngày 1 thang, hoặc nghiền thành bột, uống sau khi ăn, uống với nước đun sôi khi còn ấm. Dùng cho bệnh về mắt (mờ cộm, nhìn không rõ,...) do nóng trong gan (can nhiệt) với biểu hiện: mắt kéo màng mộng, mắt đỏ, nhìn không rõ.

Vỏ bào ngư trị đau đầu, chóng mặt

Thạch quyết minh (vỏ bào ngư) rất tốt cho người can dương vượng gây đau đầu chóng mặt, đau mắt đỏ,...

Một số món ăn thuốc có thạch quyết minh

Thạch quyết minh cúc hoa cam thảo ẩm: thạch quyết minh 12g, cúc hoa 12g, cam thảo 4g. Tất cả cho vào ấm pha trà, hãm bằng nước sôi. Uống ngày 2 ấm, cho nước nhiều lần để thay nước uống hàng ngày. Dùng tốt cho người bệnh viêm kết giác mạc cấp, chói mắt sợ ánh sáng.

Cháo thạch quyết minh: thạch quyết minh (tán bột) 25g, thảo quyết minh (sao vàng) 10g, cúc hoa 15g, gạo tẻ 100g. Dược liệu sắc lấy nước bỏ bã. Gạo tẻ vo sạch nấu cháo, khi cháo chín cho nước sắc thuốc vào khuấy đều, thêm 6g đường phèn khuấy tan cho ăn. Dùng cho người bị đau đầu, ù tai hoa mắt chóng mặt, tê bại tay chân, mắt sưng đỏ đau cấp.

Ba ba hầm thạch quyết minh: ba ba 1 con (khoảng 500g), thạch quyết minh 20g, cốc tinh thảo 15g, sinh địa hoàng 12g. Ba ba làm sạch cùng các dược liệu gói trong túi vải xô, cho vào nồi, đổ nước vừa đủ hầm chín, lấy bỏ bã thuốc, thêm gia vị phù hợp. Ăn ngày 1 lần, liên tục 5-7 ngày. Dùng tốt cho người bệnh đục nhân mắt, tăng nhãn áp (thiên đầu thống).

Gan lợn hầm thạch quyết minh, xương truật: thạch quyết minh 30g, xương truật 90g, gan lợn 80g. Thạch quyết minh nung tán mịn; xương truật gọt vỏ ngoài sấy khô tán mịn, cả hai thứ trộn đều, mỗi lần lấy 10g, nhét vào giữa miếng gan lợn đã rạch mở sẵn. Đặt gan lợn trong nồi chưng cách thủy, hầm cho chín. Dùng cho các trường hợp viêm thị thần kinh, mờ mắt, giảm thị lực.

Kiêng kỵ: Người tỳ vị hư hàn hoặc không thuộc chứng bệnh thực nhiệt cấm dùng.

TS. Nguyễn Đức Quang

Bài viết liên quan
  • Cách hiểu khoa học về nấm Đông trùng hạ thảo

    Vào Google thanh công cụ tìm kiếm bằng tiếng Việt, trong 0,54 giây đã cho hơn 2,700,000 kết quả về các thông tin liên quan đến nấm Đông trùng hạ thảo. Tra cứu bằng tiếng Anh thì kết quả thấp hơn (khoảng 160,000 kết quả). Nấm Đông trùng hạ thảo đã được sử dụng từ lâu trong việc bồi bổ, nâng cao sức khỏe của con người. Tác dụng của Đông trùng hạ thảo đối với sức khỏe trong cả đông và tây y là điều hiển nhiên, không thể phủ định. Tuy nhiên, vì tây y tiếp cận với Đông trùng hạ thảo muộn hơn đông y nên các tài liệu khoa học bằng tiếng Anh về các loại nấm Đông trùng hạ thảo cũng không nhiều.

    Xem thêm: Cách hiểu khoa học về nấm Đông trùng hạ thảo

  • Thích lê tử: Bổ thận, ích tinh

    Thích lê tử tên khác là đường quán tử, kim anh tử. Thường gặp trên các đồi cây bụi thấp ở miền núi, nương rẫy. Y học hiện đại dùng thích lê tử giúp tăng cường sức đề kháng của cơ thể, cầm máu, chữa thần kinh bất định, lo âu, trằn trọc, khó ngủ. Đông y lại dùng thích lê tử làm thuốc bổ thận, ích tinh, tráng dương, thu liễm, chỉ tả.

    Xem thêm: Thích lê tử: Bổ thận, ích tinh

  • Bài thuốc trị ho do phế âm hư

    Đông y cho rằng: “Bệnh ở phế ho có đờm, hoặc ho khan. Buổi sáng ho nhiều là do trong vị (dạ dày) có hỏa, buổi tối ho nhiều là do phế âm hư”. Chứng phế âm hư là do tân dịch bị tiêu hao, phế mất đi sự nhu dưỡng, âm dịch không đủ, sự tuyên giáng của phế bị giảm sút, hư nhiệt từ trong sinh ra hoặc do lao thương quá độ mà sinh bệnh

    Xem thêm: Bài thuốc trị ho do phế âm hư

  • Thạch cao - thuốc thanh nhiệt, trừ phiền, chỉ khát

    Thạch cao còn có tên bạch hổ, bằng thạch... Thạch cao là chất vô cơ (calci sunfat ngậm nước); ngoài ra, có thể lẫn đất sét, cát, các hợp chất sunfua, Fe và Mg. Thạch cao có 2 loại cứng và mềm. Nếu làm thuốc dùng loại thạch cao mềm; không dùng dạng khô cứng (bột thạch cao nung) - thường dùng trong ngoại khoa chấn thương để băng bó.

    Xem thêm: Thạch cao - thuốc thanh nhiệt, trừ phiền, chỉ khát

  • Dược tửu hỗ trợ trị chứng lãnh âm

    Theo y học cổ truyền, khi rượu uống được ngâm với một số vị thuốc quý sẽ có công dụng tư bổ thận âm, ích tinh dưỡng huyết. Tùy theo tính chất bệnh lý thuộc phạm vi các chứng liệt âm, lãnh âm mà bạn có thể lựa chọn và áp dụng 1 trong các phương rượu thuốc dưới đây để nâng cao sức khỏe, hưng phấn và cải thiện tình trạng suy giảm ham muốn. Điều cần lưu ý là trong các loại dược tửu nên chọn rượu trắng nhẹ dưới 29 độ là phù hợp.

    Xem thêm: Dược tửu hỗ trợ trị chứng lãnh âm

  • Cáp giới trị suy nhược cơ thể

    Cáp giới là tên thuốc trong y học cổ truyền từ loài bò sát: tắc kè. Bộ phận dùng làm thuốc cả con đã chế biến bằng cách nhúng nước sôi, hoặc dùng rượu làm sạch lông, vẩy, loại bỏ phủ tạng, đầu (chặt từ sau hai u mắt) và bàn chân. Có thể dùng tươi hay tẩm rượu nướng vàng.

    Xem thêm: Cáp giới trị suy nhược cơ thể

  • Thuốc Nam hỗ trợ phòng trị sốt xuất huyết

    Thông thường trong và sau mưa lũ, các vi sinh vật gây bệnh cùng rác thải, chất thải và xác động vật hòa trộn vào dòng nước, gây ô nhiễm môi trường và tiềm ẩn nguy cơ dịch bệnh. Những bệnh thường gặp là nấm kẽ chân, đau mắt đỏ, tả, sốt xuất huyết...

    Xem thêm: Thuốc Nam hỗ trợ phòng trị sốt xuất huyết

  • Dùng thuốc bổ trong Đông y: Hư đâu bổ đó

    Mỗi loại thảo dược có những đặc tính dược lý khác nhau. Do đó, việc tự ý sử dụng thảo dược theo quan điểm “không bổ ngang cũng bổ dọc”, không những không mang đến những hiệu quả như mong đợi, mà còn tiềm ẩn nhiều mối nguy cho sức khỏe người dùng.

    Xem thêm: Dùng thuốc bổ trong Đông y: Hư đâu bổ đó